Hiển thị các bài đăng có nhãn Tây Tiến. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tây Tiến. Hiển thị tất cả bài đăng

HOÀN CẢNH SÁNG TÁC, BỐ CỤC, CHỦ ĐỀ BÀI THƠ TÂY TIẾN


Bài thơ Tây Tiến được in trong tập thơ “ Mây đầu ô” ( xuất bản năm 1986 ) nhưng trước đó đã được bao thế hệ người yêu thơ truyền tay tìm đọc . Tác giả sáng tác bài thơ này từ năm 1948 tại làng Phù Lưu Chanh khi ông đã rời khỏi đoàn quân Tây Tiến chuyển sang hoạt động tại một đơn vị khác . Đơn vị quân đội Tây Tiến được thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt Lào , đánh tiêu hao sinh lực Pháp tại Thượng Lào và miền Tây Bắc bộ Việt Nam. Địa bàn hoạt động của đoàn quânTây Tiến khá rộng ; chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội , có nhiều học sinh , sinh viên , trong đó có Quang Dũng . Họ sống và chiến đấu trong hoàn cảnh gian khổ , thiếu thốn , bệnh sốt rét hoành hành nhưng vẫn lạc quan và chiến đấu anh dũng . Hoạt động được hơn một năm thì đơn vị Tây Tiến trở về Hoà Bình thành lập trung đoàn 52 . Lúc đầu , nhà thơ đặt tên tác phẩm là Nhớ Tây Tiến , nhưng sau đó lại đổi lại là Tây Tiến . Bài thơ được sáng tác dựa trên nỗi nhớ , hồi ức , kỉ niệm của Quang Dũng về đơn vị cũ . Thế nên toàn bài thơ là một nỗi nhớ cồn cào , tha thiết .

Bài thơ được tác giả chia thành 4 đoạn . Đoạn 1 bộc lộ nỗi nhớ những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến và khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ , dữ dội , hoang sơ . Đoạn 2 là những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong những đêm liên hoan và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng . Đoạn 3 tái hiện lại chân dung người lính Tây Tiến . Đoạn 4 là lời thề gắn bó với Tây Tiến và miền Tây .

Toàn bài thơ in đậm dấu ấn tài hoa , lãng mạn , phóng khoáng của hồn thơ Quang Dũng . Với tài năng và tâm hồn ấy , Quang Dũng đã khắc hoạ thành công hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn , đậm chất bi tráng trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng miền Tây hùng vĩ , dữ dội , mĩ lệ .

PHÂN TÍCH HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH TRONG BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG

PHÂN TÍCH HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH TRONG BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNGMỞ BÀI

Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, bụi thời gian có thể phủ dày lên hình ảnh của những anh hùng vô danh nhưng văn học với sứ mệnh thiêng liêng của nó đã khắc tạc một cách vĩnh viễn vào tâm hồn người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước đã ngã xuống vì nền độc lập của Tổ quốc trong suốt trường kỳ lịch sử. ở trong thơ Quang Dũng cũng đã dựng lên một bức tượng đài bất tử như vậy về người lính cách mạng trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược nước ta. Đó là bức tượng đài đã làm cho những người chiến sĩ yêu nước từng ngã xuống trong những tháng năm gian khổ ấy bất tử cùng thời gian

"Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc - Quân xanh màu lá dữ oai hùm - Mắt trừng gửi mộng qua biên giới - Đêm mơ HNội dáng kiều thơm - Rải rác biên cương mồ viễn xứ - Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh - áo bào thay chiếu anh về đất - Sông Mã gầm lên khúc độc hành"

THÂN BÀI

"Tây Tiến" của Quang Dũng là dòng hồi ức vô cùng thương nhớ về những đồng đội của nhà thơ, những người đã từng sống, từng chiến đấu nhưng cũng có người đã hy sinh, những người đã trở về với đất mẹ yêu thương, nhưng dẫu sao đó cũng là những người mãi mãi nằm lại nơi biên cương hay miền viễn xứ. Chính vì thế QDũng không chỉ dựng lại cả một hình ảnh của đoàn binh Tây Tiến trên những chặng đường hành quân gian khổ hy sinh mà "đời vẫn cứ tươi" như ở 14 dòng thơ đầu tiên. Và QDũng cũng không chỉ khắc tạc hình ảnh của những người lính với một đời sống tình cảm hết sức phong phú, những tình cảm lớn lao là tình quân dân. QDũng đã đặc biệt quan tâm tới ý tưởng dựng tượng đài người lính Tây Tiến trong tác phẩm của mình. Nhà thơ đã sử dụng hệ thống ngôn ngữ giàu hình ảnh, hàng loạt những thủ pháp như tương phản, nhân hoá, tăng cấp ý nghĩa để tạo ấn tượng mạnh để khắc tạc một cách sâu sắc vào tâm trí người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước, của dtộc. Đó là bức tượng đài sừng sững giữa núi cao sông sâu, giữa một không gian hùng vĩ như chúng ta đã thấy trong các câu thơ

"Tây Tiến đoàn quân ..... khúc độc hành"

Bức tượng đài người lính Tây Tiến trước hết được khắc hoạ lên từ những đường nét nhằm tô đậm cuộc sống gian khổ của họ. Nếu như ở những đoạn thơ trước đó người lính mới chỉ hiện ra trong đoàn quân mỏi trong câu:

" Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi "

hay trong khung cảnh hết sức lãng mạn trong đêm liên hoan, đêm lửa trại thắm tình cá nước thì ở đây là hình ảnh đoàn binh không mọc tóc da xanh như lá rừng. Cảm hứng chân thực của QDũng đã không né tránh việc mô tả cuộc sống gian khổ mà người lính phải chịu đựng. Những cơn sốt rét rừng làm tóc họ không thể mọc được (chứ không phải họ cố tình cạo trọc để đánh giáp lá cà cho dễ như nhiều người từng nói). Cũng vì sốt rét rừng mà da họ xanh như lá cây (chứ không phải họ xanh màu lá nguỵ trang), vẻ ngoài dường như rất tiều tuỵ. Nhưng thế giới tinh thần của người lính lại cho thấy họ chính là những người chiến binh anh hùng, họ còn chứa đựng cả một sức mạnh áp đảo quân thù, họ dũng mãnh như hổ báo, hùm beo. Cái giỏi của QDũng là mô tả người lính với những nét khắc khổ tiều tuỵ nhưng vẫn gợi ra âm hưởng rất hào hùng của cuộc sống. Bởi vì câu thơ "Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc" với những thanh trắc rơi vào trọng âm đầu của câu thơ như "tiến", "mọc tóc". Nhờ những thanh trắc ấy mà âm hưởng của câu thơ vút lên. Chẳng những thế, họ còn là cả một đoàn binh. 2 chữ "đoàn binh" âm Hán Việt đã gợi ra một khí thế hết sức nghiêm trang, hùng dũng. Và đặc biệt hai chữ "Tây Tiến" mở đầu câu thơ không chỉ còn là tên gọi của đoàn binh nữa, nó gợi ra hình ảnh một đoàn binh dù đầu không mọc tóc vẫn đang quả cảm tiến bước về phía Tây. Thủ pháp tương phản mà QDũng sử dụng ở câu thơ "Quân xanh màu lá dữ oai hùm" không chỉ làm nổi bật lên sức mạnh tinh thần của người lính mà còn thấm sâu màu sắc văn hoá của dân tộc. ở đây, nhà thơ không chỉ muốn nói rằng những người lính Tây Tiến như chúa sơn lâm, không phải muốn "động vật hoá" người lính Tây Tiến mà muốn nói tới sức mạnh bách chiến bách thắng bằng một hình ảnh quen thuộc trong thơ văn xưa. Phạm Ngũ Lão cũng ca ngợi người anh hùng vệ quốc trong câu thơ

"Hoành sóc giang san cáp kỷ thu - Tam quan kỳ hổ khí thôn ngưu"

Và ngay cả Hồ Chí Minh trong "Đăng sơn" cũng viết

"Nghĩa binh tráng khí thôn ngưu đẩu - Thể diện sài long xâm lược quân"

Có thể nói QDũng đã sử dụng một mô típ mang đậm màu sắc phương Đông để câu thơ mang âm vang của lsử, hình tượng người lính cách mạng gắn liền với sức mạnh truyền thống của dân tộc. Đọc câu thơ: "Quân xanh màu lá dữ oai hùm" ta như nghe thấy âm hưởng của một hào khí ngút trời Đông á.

Hình tượng người lính Tây Tiến bỗng nhiên trở nên rất đẹp khi QDũng bổ sung vào bức tượng đài này chất hào hoa, lãng mạn trong tâm hồn họ

"Mắt trừng gửi mộng qua biên giới - Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm"

Trước hết đó là một vẻ đẹp tấm lòng luôn hướng về Tquốc, hướng về Thủ đô. Người lính dẫu ở nơi biên cương hay viễn xứ xa xôi mà lòng lúc nào cũng hướng về HNội. Ta bỗng nhớ đến câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ:

"Từ thuở mang gươm đi mở nước - Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long"

Người lính Tây Tiến dẫu "mắt trừng gửi mộng qua biên giới" mà niềm thương nỗi nhớ vẫn hướng về một "dáng kiều thơm". Đã một thời, với cái nhìn ấu trĩ, người ta phê phán thói tiểu tư sản, thực ra nhờ vẻ đẹp ấy của tâm hồn mà người lính có sức mạnh vượt qua mọi gian khổ, người lính trở thành một biểu tượng cho vẻ đẹp của con người Việt Nam. QuDũng đã tạo nên một tương phản hết sức đặc sắc - những con người chiến đấu kiên cường với ý chí sắt thép cũng chính là con người có một đời sống tâm hồn phong phú. Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà còn rất hào hoa, giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động trong một nỗi nhớ về một dáng kiều thơm, nhớ về vẻ đẹp của Hà Nội - Thăng Long xưa.

Bức tượng đài người lính Tây Tiến đã được khắc tạc bằng những nguồn ánh sáng tương phản lẫn nhau, vừa hiện thực vừa lãng mạn. Từng đường nét đều như nổi bật và tạo được những ấn tượng mạnh mẽ. Đây cũng là đặc trưng của thơ QDũng.

Nếu như ở 4 câu thơ trên, người lính Tây Tiến hiện ra trong hình ảnh một đoàn binh với những bước chân Tây tiến vang dội khí thế hào hùng và một thế giới tâm hồn hết sức lãng mạn thì ở đây bức tượng đài người lính Tây Tiến được khắc tạc bằng những đường nét nổi bật về sự hy sinh của họ. Nếu chỉ đọc từng câu thơ, chỉ phân tích từng hình ảnh riêng rẽ độc lập, người ta dễ cảm nhận một cách bi luỵ về cái chết của người lính mà thơ ca kháng chiến thuở ấy rất ít khi nói đến. Bởi thơ ca kháng chiến phần lớn chỉ quan tâm đến cái hùng mà không quan tâm đến cái bi. Nhưng nếu đặt các hình ảnh, các câu thơ vào trong chỉnh thể của nó, ta sẽ hiểu QDũng đã mô tả một cách chân thực sự hy sinh của người lính bằng cảm hứng lãng mạn, hình tượng vì thế chẳng những không rơi vào bi lụy mà còn có sức bay bổng.

Có thể thấy câu thơ: "Rải rác biên cương mồ viễn xứ" nếu tách riêng ra rất dễ gây cảm giác nặng nề bởi đó là câu thơ nói về cái chết, về nấm mồ của người lính Tây Tiến ở nơi "viễn xứ". Từng chữ từng chữ dường như mỗi lúc một nhấn thêm nốt nhạc buồn của khúc hát hồn tử sĩ. Chẳng phải thế sao? Nói về những nấm mồ, lại là những nấm mồ "rải rác" dễ gợi sự hoang lạnh, lại là "rải rác" nơi "viễn xứ", những nấm mồ ấy càng gợi sự cô đơn côi cút. QDũng muốn nói tới nơi yên nghỉ của những người đồng đội

"Anh bạn dãi dầu không bước nữa - Gục lên súng mũ bỏ quên đời"

Trong Chinh phụ ngâm:

"Hồn tử sĩ gió về ù ù thổi - Mặt chinh phu trăng rõi rõi soi - Chinh phu tử sĩ mấy người - Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn"

Tuy nhiên với câu thơ thứ hai, ta lại thấy hình ảnh những nấm mồ rải rác nơi biên cương đã trở về với sự ấm cúng của niềm biết ơn của nhân dân, của đất nước. Bởi đó chính là nấm mồ của những người con anh dũng

"Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh"

Đồng thời cũng chính câu thơ thứ 2 đã làm cho những nấm mồ rải rác kia được nâng lên những tầng cao của đài tưởng niệm, của Tổ quốc đối với người lính đã vì tiếng gọi của chiến trường mà hiến dâng tuổi xanh của mình. Trong thơ QDũng luôn là một sự nâng đỡ nhau của nhiều hình ảnh như vậy.

Sự hy sinh của người lính còn được tráng lệ hoá trong câu thơ

"áo bào thay chiếu anh về đất"

Bao nhiêu thương yêu của QDũng trong một câu thơ như vậy về một đồng đội của mình. Ai bảo QDũng không xót thương những người đồng đội của mình ra đi trong cách tiễn đưa ấy, cảnh tiễn đưa với bao thiếu thốn, khó khăn, cái thuở những người lính Tây Tiến chết vì sốt rét nhiều hơn chết vì chiến trận. Lại trong cảnh kháng chiến còn rất khó khăn nên tiễn đưa người chết không có cả một chiếc quan tài. Hoàng Lộc trong "Viếng bạn" cũng đã viết về cảnh tiễn đưa như thế

"ở đây không manh ván - Chôn anh bằng tấm chăn - Của đồng bào Cứa Ngàn - Tặng tôi ngày sơ tán"

Chỉ có điều câu thơ của QDũng không dừng lại ở mức tả thực mà đẩy lên thành cảm hứng tráng lệ, coi chiếu là áo bào để cuộc tiễn đưa trở nên trang nghiêm, cổ kính. Cũng có người hiểu đến chiếc chiếu cũng không có, chỉ có chính tấm áo của người lính. Dù hiểu theo cách nào thì cũng phải thấy QDũng đã tráng lệ hoá cuộc tiễn đưa bi thương bằng hình ảnh chiếc áo bào và sự hy sinh của người lính đã được coi là sự trở về với đất nước, với núi sông. Cụm từ "anh về đất" nói về cái chết nhưng lại bất tử hoá người lính, nói về cái bi thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ. Mạch cảm xúc ấy đã dẫn tới câu thơ đầy tính chất tráng ca

"Sông Mã gầm lên khúc độc hành"

KẾT BÀI

Từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, QDũng đã dựng lên bức chân dung , một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp. Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến ấy. Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của QDũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước của mình. Vì thế từ bức tượng đài đã vút lên khúc hát ngợi ca của nhà thơ cũng như của cả đất nước về những người con anh hùng ấy.

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH TÂY TIẾN TRONG BÀI THƠ CÙNG TÊN CỦA QUANG DŨNG


1. Nêu vắn tắt hoàn cảnh sáng tác tác phẩm.

2. Hình tượng người lính chủ yếu hiện lên qua nỗi nhớcủa Quang Dũng:

Cả bài thơ là nỗi nhớ khôn nguôi của Quang Dũng về đoàn quân Tây Tiến nên hình tượng người lính chủ yếu hiện lên qua nỗi nhớ của nhà thơ – một đại đội trưởng trong đoàn quân Tây Tiến năm xưa. Nhờ vậy hình tượng người lính Tây Tiến hiện lên chân thực hơn và được bao bọc trong một tình cảm vừa trìu mến thân thương, vừa trân trọng cảm phục.

3. Phân tích, cảm nhận trực tiếp về hình tượng người lính Tây Tiến:

a. Qua nỗi nhớ của Quang Dũng, người lính Tây Tiến hiện lên trong tầm vóc của "đoàn quân", "đoàn binh", một tập thể đông đảo hùng hậu. Cách cảm nhận như thế mang lại một âm hưởng hào hùng cho tứ thơ.

b. Vẻ đẹp của tinh thần nỗ lực vượt lên trên những khó khăn gian khổ:
- Lính Tây Tiến phần đông xuất thân từ học sinh, sinh viên Hà nội, nên hiện thực của đời sống chiến đấu nơi rừng thiêng nước độc Tây Bắc thực sự là những thử thách lớn lao.
- Lính Tây Tiến là những con người đặc biệt gan góc, dũng cảm, luôn vượt lên trên khó khăn gian khổ thiếu thốn của đời sống chiến đấu, những khắc nghiệt dữ dội của thiên nhiên rừng thiêng nước độc Tây Bắc để đóng góp sức mình cho cuộc kháng chiến chung của dân tộc:
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
…...........................................
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, khắc nghiệt, những hiểm nguy và cái chế rình rập khắp nơi nhưng đều trở nên vô nghĩa trước bước chân của người lính Tây Tiến. Nhà thơ đã dùng hình thức đối lập tương phản để khắc hoạ vẻ đẹp của người lính Tây Tiến. Thiên nhiên càng dữ dội khắc nghiệt vẻ đẹp của người lính Tây Tiến càng nổi bật. Lính Tây Tiến trở thành đối thủ xứng tầm của thiên nhiên.

c. Vẻ đẹp ngoại hình dữ dội, lẫm liệt oai phong của những người lính Tây Tiến :
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

d. Đằng sau ngoại hình thô mộc, dữ dội, oai phong là vẻ đẹp của một nội tâm phong phú, tinh tế, vẻ đẹp của một tâm hồn lãng mạn, hào hoa, nhiều mơ mộng:
- Cái nhìn đắm say tình tứ trước những vẻ đẹp nữ tính trong đêm hội đuốc hoa:
“Kìa em xiêm áo tự bao giờ", "Khèn lên man điệu nàg e ấp"
- Tâm hồn mơ mộng luôn hướng đến những khung trời hoa lệ: "Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”. Trong môi người lính Tây tiến đều có một tâm hồn thi sĩ.
- Niềm khát khao về một dáng Kiều và sự thống nhất giữa tình yêu riêng tư với tình yêu đất nước:
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà nội dáng Kiều thơm”

e. Vẻ đẹp của lý tưởng sống chiến đấu tự nguyện cao cả:
“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”
g. Vẻ đẹp của tinh thần và tư thế hi sinh cao đẹp phi thường:
- Sự hi sinh của một người lính cụ thể:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
- Sự hi sinh của nhiều người lính Tây Tiến vô danh:
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ"
“ Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

h. Trong vẻ đẹp của hình tượng người lính Tây Tiến còn có vẻ đẹp của chính tâm hồn Quang Dũng – một người lính Tây Tiến năm xưa. Dù đoàn quân Tây Tiến đã trở về Hòa Bình thành lập Trung đoàn 52, dù Quang Dũng đã chuyển sang đơn vị khác, nhưng khoảng cách thời gian, không gian vẫn không thể làm phai mờ những kỷ niệm - dù là nhỏ nhất - của nhà thơ về Tây Bắc, về đồng đội trong đoàn quân Tây Tiến, về một thời gian khổ . Đó là vẻ đẹp của một tâm hồn ân tình ân nghĩa với quá khứ, không bao giờ lãng quên một thời gian khổ.

Kết luận: Qua nỗi nhớ của Quang Dũng, hình tượng người lính Tây Tiến đã hiện lên với nhiều vẻ đẹp độc đáo cả về tầm vóc, ý chí, bản lĩnh lẫn ngoại hình, cả về nội tâm, lí tưởng sống chiến đấu lẫn tinh thần thái độ hi sinh. Bút pháp tương phản lãng mạn, lý tưởng hoá được nhà thơ sử dụng khéo léo để thể hiện vẻ đẹp của đoàn quân Tây Tiến. Chính vẻ đẹp độc đáo này là một trong những cội nguồn làm nên sức hấp dẫn lâu bền của bài thơ đồng thời là những đóng góp không nhỏ của Quang Dũng đối với thơ ca kháng chiến chống Pháp khi thể hiện đề tài người lính.